Lịch sử tennis - Từ quý tộc đến đời thường- Luật Tennis

hieuthuocbac

Thành viên mới
Điểm đôi: 740
Tham gia
Thích
70
#22
không ngờ tennis cũng có một chặn đường lịch sử dài như vầy :)
 

Nam Hoàng

Thành viên mới
Điểm đôi: 695
Tham gia
Thích
639
#24
tennis giờ đây ko dành cho quý tộc nữa mà dành cho tất cả những ng` có đam mê
 

Nguyễn Phong

Thành viên mới
Điểm đôi: 700
Tham gia
Thích
255
#25
Cám ơn bác 2Bim nhiều lắm, đọc các bài bác post giúp em hiểu thêm về bộ môn tennis rất nhiều!

Chờ mong những topic bổ ích từ bác!
 

Ga Tay Dn

Thành viên mới
Tham gia
Thích
42
#27
2Bim nói:
Luật thi đấu quần vợt - Phần 2 (Luật chơi Tennis)Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.

Điều 6: CHỌN BÊN VÀ CHỌN GIAO BÓNG

Trước hiệp đấu đầu tiên sẽ tiến hành tung đồng xu để chọn bên sân và chọn giao bóng hay chọn đỡ giao bóng. Đấu thủ thắng được quyền chọn hay yêu cầu đấu thủ chọn:

a. Quyền giao bóng hay đỡ giao bóng, trong trường hợp đấu thủ kia chọn bên sân.

b. Chọn bên sân, trong trường hợp đấu thủ kia chọn quyền giao bóng hay đỡ giao bóng.

Tình huống 1: Các đấu thủ có quyền chọn lại nếu trước khi bắt đầu trận đấu bị hoãn hoặc đình chỉ?

Quyết định: Có. Vẫn giữ kết quả tung đồng xu nhưng có thể chọn lại bên sân và giao bóng.

Điều 7: GIAO BÓNG

Giao bóng được thực hiện như sau: Ngay trước khi bắt đầu giao bóng, đấu thủ giao bóng đứng cả 2 chân ở phần phía sau đường biên ngang (cách xa lưới hơn) và trong phần đường kéo dài tưởng tượng của mốc đường giao bóng và đường biên dọc. Đấu thủ giáo bóng dùng một tay tung bóng lên cao theo bất kỳ hướng nào và dùng vợt đánh bóng trước khi bóng chạm xuống mặt sân. Quả giao bóng được coi là kết thúc vào thời điểm bóng chạm mặt vợt. Đấu thủ nào chỉ sử dụng được một tay có thể dùng vợt để tung bóng lên cao.

Tình huống 1: Khi đánh đơn, đấu thủ giao bóng có được đứng ở sau đường biên ngang, phần giữa đường biên dọc của sân đơn và sân đôi để giao bóng không?

Quyết định: Không.

Tình huống 2: Nếu khi giao bóng, đấu thủ tung 2 hay nhiều quả bóng lên thay vì chỉ tung một quả, như vậy có tính là lỗi không?

Quyết định: Không. Đấu thủ được giao lại, nhưng nếu trọng tài thấy đó là lỗi cố ý thì có thể sử phạt theo Điều 21.

Điều 8. LỖI KHI GIAO BÓNG

Trong suốt quá trình giao bóng, đấu thủ giao bóng:

a. Không thay đổi vị trí bằng cách đi hoặc chạy. Đấu thủ giao bóng nếu di chuyển bàn chân nhẹ mà không ảnh hưởng đến vị trí ban đầu thì không bị coi là thay đổi vị trí bằng cách đi hay chạy.

b. Không được chạm bàn chân vào bất cứ đâu trừ khoảng sân sau đường biên ngang từ đường tưởng tượng kéo dài của mốc giữa đường cuối sân với các đường biên dọc.

Điều 9: TRÌNH TỰ GIAO BÓNG

a. Trình tự giao bóng: Đấu thủ giao bóng lần lượt từ bên phải rồi từ bên trái sân, khi bắt đầu ván luôn giao bóng từ bên phải. Nếu phát hiện giao bóng sai vị trí thì kết quả trước đó vẫn được giữ nguyên nhưng phải đổi vị trí giao bóng cho đúng ngay khi phát hiện ra.

b. Bóng phải bay qua lưới rơi trong ô giao bóng hoặc trên các vạch của ô giao bóng chéo với vị trí giao bóng trước khi đấu thủ đỡ giao bóng đánh bóng trở lại.

Điều 10. LỖI GIAO BÓNG

Giao bóng phạm lỗi:

a. Nếu đấu thủ giao bóng vi phạm điểm nào đó trong Điều 7, 8 hoặc 9 (b).

b. Nếu đấu thủ giao bóng đánh không trúng bóng khi bóng đã được tung lên.

c. Nếu bóng chạm những thiết bị cố định trên sân (trừ lưới hoặc cạp lưới) trước khi rơi vào sân.

Tình huống 1: Sau khi tung bóng lên cao để chuẩn bị giao bóng, đấu thủ giao bóng quyết định không đánh bóng mà bắt bóng, như vậy có bị coi là lỗi không?

Quyết định: Không.

Tình huống 2: Khi giao bóng đánh đơn trên sân đôi với cột lưới đôi và cọc chống đơn, bóng chạm cọc chống đơn và sau đó chạm sân đúng ô giao bóng. Quả giao bóng đó là lỗi hay giao bóng lại.

Quyết định: Lỗi. Vì cọc chống đơn, cột lưới sân đôi, phần lưới và cạp lưới ở giữa cột với cọc chống đều được coi lad những thiết bị cố định (Điều 2,10 và ghi chú Điều 24).

Điều 11. QUẢ GIAO BÓNG THỨ HAI

Sau một lỗi giao bóng (nếu đó là lỗi thứ nhất) đấu thủ giao bóng được giao quả bóng thứ hai cũng ở vị trí đã giao quả bóng trước, nhưng nếu vị trí đó được phát hiện là nhầm thì khi chuyển vị trí, đấu thủ giao bóng cũng chỉ được giao một quả ở vị trí giao bóng đúng (theo Điêu 9).

Tình huống 1: Đấu thủ giao bóng sai vị trí, đấu thủ đó bị thua điểm và sau đó tuyên bố đó là lỗi vì đứng sai vị trí.

Quyết định: Vẫn giữ điểm và trong quả giao bóng tiếp theo phải đứng đúng vị trí tính theo điểm.

Tình huống 2: Điểm đang là 15 đều, đấu thủ giao bóng do nhầm lẫn đã đứng bên trái sân. Đấu thủ đó thắng điểm. Sau đó đấu thủ lại giao bóng ở bên phải sân và phạm lỗi. Lúc này phát hiện lỗi vị trí. Đấu thủ có được tính điểm quả trước không. Tiếp theo đấu thủ sẽ giao bóng ở vị trí nào?

Quyết định: Điểm trước vẫn được giữ. Quả giao bóng tiếp theo từ phần sân bên trái, điểm số là 30/15 và dấu thủ giao bóng đã giao lỗi một quả.

Điều 12. KHI NÀO THÌ GIAO BÓNG

Đấu thủ giao bóng chỉ được giao bóng khi đối phương đã sẵn sàng đỡ bóng. Nếu đấu thủ đỡ giao bóng tỏ ra cố gắng đánh trả quả giao bóng, coi như dấu thủ đó đã sẵn sàng. Tuy nhiên , nếu đấu thủ đỡ bóng ra hiệu mình chưa sẵn sàng, đấu thủ đó không bị quy lỗi vì bóng không chạm đất trong thời gian ấn định cho việc giao bóng.

Điều 13. QUẢ ĐÁNH LẠI

Trong mọi tình huống có quả đánh lại theo luật hoặc do trận đấu bị gián đoạn thì phải tuân theo những quy định sau:

a. Khi tuyên bố riêng lẻ với một quả giao bóng có nghĩa là chỉ giao lại quả đó

b. Khi tuyên bố trong mọi tình huống khác có nghĩa là điểm đó được đánh lại.

Tình huống 1. Quả giao bóng bị gián đoạn vì lý do ngoài quy định trong Điều 14. Chỉ đánh lại quả giao bóng đó?

Quyết định: Không. Phải đánh lại cả điểm đó.

Tình huống 2: Nếu trong khi đánh bóng bị vỡ, có giao bóng lại không?

Quyết định : Có.

Điều 14. QUẢ ĐÁNH LẠI TRONG GIAO BÓNG

Quả giao bóng được đánh lại:

a. Nếu quả giao bóng đó chạm lưới, cạp lưới, giải băng, hoặc chạm lưới, cạp lưới giải băng lưới rồi lại chạm vào người đỡ giao bóng hay bất cứ vật gì mà người đó mang trên người trước khi bóng chạm đất.

b. Nếu một qua rgiao bóng hoặc một lỗi được thực hiện khi đấu thủ giao bóng chưa sẵn sàng (theo Điều 12). Nếu giao bóng lại, quả giao bóng cụ thể đó sẽ không được tính, và đấu thủ giao bóng phải giao bóng lại nhưng vẫn tính lỗi trước đó.

Điều 15. THỨ TỰ GIAO BÓNG

Sau ván thứ nhất, đấu thủ đỡ giao bóng đổi thành đấu thủ giao bóng và ngược lại đấu thủ đỡ giao bóng trở thành đấu thủ giao bóng. Thứ tự này được lặp lại trong tất cả các ván tiếp theo của trận đấu. Nếu phát hiện giao bóng sai thứ tự thì phải điều chỉnh ngay nhưng tất cả các điểm trước đó vẫn được giữ nguyên. Quả giao bóng lỗi trước khi phát hiện sai thứ tự không được tính. Nếu phát hiện giao bóng sai thứ tự khi vừa kết thúc một ván thì thứ tự giao bóng giữ nguyên như đã bị thay đổi.

Điều 16. ĐẤU THỦ ĐỔI BÊN

Đấu thủ đổi bên sau các ván thứ nhất, thứ ba và các ván lẻ tiếp theo của mỗi hệp và ở cuối mỗi hiệp trừ khi tổng số ván của hiệp đó chẵn, trong trường hợp này thì sau khi kết thúc ván thứ nhất củ hiệp sau mới đổi bên.

Nếu phạm lỗi không theo đúng thứ tự nôí tiếp đó, các đấu thủ phải về đúng vị trí của mình ngay khi phát hiện lỗi đó và theo sự nối tiếp ban đầu.

Điều 17. BÓNG TRONG CUỘC

Bóng trong cuộc tính từ lúc quả giao bóng được thực hiện, trừ khi có phạm lỗi hoặc khi có quyết định đánh lại, cho đến khi điểmđó được xác định.

Tình huống 1: Đấu thủ đánh trả đường bóng hỏng nhưng không có tín hiệu gì của trọng tài và bóng vẫn tro ng cuộc. Sau khi kết thúc loạt bóng đối phương đòi thắng điểm?

Quyết định: Không. Nếu như đối phương không bị cản trở thì không được đòi tính điểm đó nếu cả hai đấu thủ tiếp tục thi đấu sau khi bóng hỏng.

Điều 18. ĐẤU THỦ GIAO BÓNG THẮNG ĐIỂM

Đấu thủ giao bóng thắng điểm khi:

a. Nếu quả giao bóng, không phải là quả giao bóng lại theo Điều 14, chạm vào người đối phương hoặc bất cứ thứ gì đấu thủ đó mặt hoặc mang trên người trước khi bóng chạm sân.

b. Nếu đấu thủ đỡ giao bóng bị thua điểm theo quy định của Điều 20.

Điều 19. ĐẤU THỦ ĐỠ GIAO BÓNG THẮNG ĐIỂM

Đấu thủ đỡ giao bóng thắng điểm khi:

a. Nếu đấu thủ giao bóng giao hỏng liên tiếp cả hai lần.

b. Nếu đấu thủ giao bóng bị thua điểm theo quy định của Điều 20.

Điều 20. ĐẤU THỦ THUA ĐIỂM

Đấu thủ thua điểm nếu:

a. Không đánh trả được bóng qua lưới, để bóng nảy hai lần (trừ trường hợp trong điểm 24a hay 24c).

b. Đấu thủ đánh trả bóng mà bóng chạm đất, chạm thiết bị cố định trên sân, một vật thể, hoặc ngoài các đường biên của sân đối phương (trừ trường hợp trong điểm 24a hay 24c).

c. Đánh trả bóng bằng cách đập trên không (đánh vô lê) nhưng bị hỏng, ngay cả khi đấu thủ đứng ngoài sân.

d. Trong khi đánh đấu thủ cố tình giữ hoặc chạm bóng lâu trên mặt vợt hoặc chạm bóng bằng vợt quá một lần.
Cho 1 like
 

Tuan73

Thành viên mới
Điểm đôi: 665
Tham gia
Thích
20
#28
2Bim nói:
Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.Nếu thiếu tá Wingfield không quyết định đổi tên môn thể thao mới thì có lẽ bây giờ chúng ta sẽ phải theo dõi Wimbledon Sphairistike Championships. Nhưng chắc sẽ không có mấy người thích cái tên này, nhất là các bình luận viên thể thao.

Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.



Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.

Mặc dù cái tên được chọn là do thiếu tá Wingfield nghĩ ra, nhưng thực tế, môn tennis hiện đại đã hình thành theo hai con đường riêng biệt.

Vào năm 1856, Alex Ryden, cố vấn pháp luật, đã cùng với người bạn là Joao Batista Pereira, lái buôn Bồ Đào Nha, chơi một trò chơi được họ gọi là “pelota”, tương tự như một trò đánh bóng của Tây Ban Nha. Họ thường thi đấu trên một bãi cỏ tại Edgbaston, thành phố Birmingham.

Đến năm 1872, cả hai chuyển tới Leamington Spa, thành phố thuộc miền Nam nước Anh; và trò chơi của họ đã thu hút thêm hai bác sỹ thuộc bệnh viện Warneford.

Sau đó, Pereira đã cùng với bác sỹ Frederick Haynes và bác sỹ Wellesley Tomkins thành lập câu lạc bộ quần vợt trên sân cỏ đầu tiên trên thế giới, câu lạc bộ Leamington Tennis Club, cũng như đưa ra những luật lệ đầu tiên cho môn thể thao này.

Tờ báo The Courier ngày 23 tháng 07 năm 1884 đã ghi nhận một trong những giải thi đấu đầu tiên của môn tennis, diễn ra tại sảnh Shrubland (nơi này đã bị phá hủy vào năm 1948).

Con đường thứ hai, được biết đến nhiều hơn, là môn tennis do thiếu tá Walter Clopton Wingfield nghĩ ra, dành cho những vị khách đến chơi tại biệt thự của ông nằm ở Natchlwyd, xứ Wales. Trò chơi này được vay mượn từ rất nhiều môn thể thao khác, mà đặc biệt là một môn thể thao trong nhà có tên “real tennis” (có nghĩa là “tennis hoàng gia”).

Nhìn thấy tương lai sáng lạn của môn thể thao này, thiếu tá Wingfield đã đăng ký sáng chế vào năm 1874, nhưng đã không thể giữ được độc quyền. Tennis phát triển một cách nhanh chóng trong các giai cấp nhàn rỗi của Anh và lan sang cả nước Mỹ. Lần đầu tiên tennis xuất hiện bên kia bờ Đại Tây Dương là tại tư gia của Mary Ewing Outerbridge, Staten Island, New York cùng trong năm 1874.

Đến năm 1881, nhu cầu thi đấu đã dẫn tới sự xuất hiện của rất nhiều câu lạc bộ tennis. Và giải đấu đầu tiên tại Wimbledon, London đã được tổ chức vào năm 1877.

Cũng trong năm 1881, Hiệp hội quần vợt trên sân cỏ quốc gia Hoa Kỳ (nay là Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ) đã tiêu chuẩn hóa bộ luật đầu tiên của môn quần vợt, đồng thời tổ chức các giải đấu trên đất Mỹ. Đây là nền tảng cho bộ luật hoàn chỉnh I.L.T.F được ban hành năm 1924, và hầu như được giữ nguyên cho đến bây giờ. Trong hơn 80 năm, chỉ có một thay đổi lớn là việc thêm vào hệ thống tie-break do James Van Alen nghĩ ra.

Giải đấu U.S. National Men"s Singles Championship (Giải vô địch đơn nam quốc gia Mỹ) nay là U.S Open (Giải Mỹ mở rộng), được tổ chức lần đầu tiên tại Newport, Rhode Island, và chỉ sau đó 6 năm, giải đấu tương tự dành cho nữ cũng được tổ chức. Riêng giải David Cup dành cho các đội tuyển nam quốc gia được tổ chức lần dầu giữa Anh và Mỹ vào năm 1900.

Trong nhiều năm, tennis là môn thể thao của các nước nói tiếng Anh, trong đó nổi bật là Mỹ và khối liên hiệp Anh. Ngoài ra, nó cũng khá phổ biến ở Pháp, và giải Pháp mở rộng lần đầu tiên diễn ra vào năm 1891.

Cũng chính vì thế, các giải đấu Wimbledon, Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng và Úc mở rộng (được tổ chức lần đầu năm 1905) đã trở thành những giải đấu có uy tín lớn nhất trong giới banh nỉ cho đến nay. Bốn giải đấu này tập hợp lại thành một hệ thống được gọi là Grand Slam.

Năm 1926, C.C.Pyle đã tổ chức hệ thống giải đấu tennis chuyên nghiệp đầu tiên giữa những tuyển thủ Mỹ và Pháp. Tại đây các tuyển thủ sẽ thi đấu cho khán giả đã trả tiền vào xem. Và trong suốt 42 năm, quần vợt chuyên nghiệp và nghiệp dư hoàn toàn độc lập với nhau; các tuyển thủ chuyên nghiệp không được thi đấu tại giải nghiệp dư.

Mãi đến năm 1968, sức ép thương mại mới đánh đổ được bức tường ngăn cách này. Thời đại mở của tennis bắt đầu, cho phép tất các các tay vợt được tham dự bất kỳ giải đấu nào, cũng như giúp các tuyển thủ hàng đầu có thể sống bằng tennis.

Roland Garros, hay Pháp mở rộng - một trong bốn giải đấu lớn nhất của làng banh nỉ

Thời đại mới cũng khai sinh những hệ thống thi đấu chuyên nghiệp trong khi lợi nhuận khổng lồ từ việc bán bản quyền truyền hình đã truyền bá quần vợt ra khắp thế giới; các tay vợt thuộc khối các nước nói tiếng Anh không còn giữ địa vị thống trị. Kể từ năm 1970 đến nay, các nhà vô địch đều đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau như Đức, Úc, Brazil, Thụy Sỹ…



Tại Mỹ, quần vợt đã nhanh chóng chuyển thành một môn thể thao dành cho tất cả mọi người. Thành công đã đến với rất nhiều tay vợt, từ một người thuộc giai cấp công nhân như Jimmy Connors đến những người Mỹ gốc Phi như Arthur Ashe hay chị em nhà Williams. Đây có thể là kết quả của việc trong thập kỷ 70, Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ đã quyết định đưa giải đấu U.S. Open ra thi đấu ở một công viên công cộng và cho phép mọi người đến xem với chỉ một khoản “phí sân cỏ” là 17$ (giá hiện nay).

Đến năm 1954, James Van Alen, người đã có công sáng tạo ra hệ thống tie-break đã thành lập một Viện bảo tàng quần vợt Quốc tế, đặt tại Newport, Rhode Island. Nơi đây lưu giữ một bộ sưu tập khổng lồ những kỷ vật của làng banh nỉ cũng như một bảng thống kê những nhân vật có tên tuổi, có những đóng góp quan trọng cho môn tennis, gồm cả các tay vợt lẫn những người chỉ làm công việc văn phòng.
Mở mang kiến thức
 

anhlee

Thành viên mới
Điểm đôi: 670
Tham gia
Thích
2
#29
Bh tennis cũng bình dân hoá rồi mà..hihi.. Love tennis
 

Tuanmqa

Thành viên mới
Điểm đôi: 695
Tham gia
Thích
1
#30
Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.

Nếu thiếu tá Wingfield không quyết định đổi tên môn thể thao mới thì có lẽ bây giờ chúng ta sẽ phải theo dõi Wimbledon Sphairistike Championships. Nhưng chắc sẽ không có mấy người thích cái tên này, nhất là các bình luận viên thể thao.

Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.



Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.

Mặc dù cái tên được chọn là do thiếu tá Wingfield nghĩ ra, nhưng thực tế, môn tennis hiện đại đã hình thành theo hai con đường riêng biệt.

Vào năm 1856, Alex Ryden, cố vấn pháp luật, đã cùng với người bạn là Joao Batista Pereira, lái buôn Bồ Đào Nha, chơi một trò chơi được họ gọi là “pelota”, tương tự như một trò đánh bóng của Tây Ban Nha. Họ thường thi đấu trên một bãi cỏ tại Edgbaston, thành phố Birmingham.

Đến năm 1872, cả hai chuyển tới Leamington Spa, thành phố thuộc miền Nam nước Anh; và trò chơi của họ đã thu hút thêm hai bác sỹ thuộc bệnh viện Warneford.

Sau đó, Pereira đã cùng với bác sỹ Frederick Haynes và bác sỹ Wellesley Tomkins thành lập câu lạc bộ quần vợt trên sân cỏ đầu tiên trên thế giới, câu lạc bộ Leamington Tennis Club, cũng như đưa ra những luật lệ đầu tiên cho môn thể thao này.

Tờ báo The Courier ngày 23 tháng 07 năm 1884 đã ghi nhận một trong những giải thi đấu đầu tiên của môn tennis, diễn ra tại sảnh Shrubland (nơi này đã bị phá hủy vào năm 1948).

Con đường thứ hai, được biết đến nhiều hơn, là môn tennis do thiếu tá Walter Clopton Wingfield nghĩ ra, dành cho những vị khách đến chơi tại biệt thự của ông nằm ở Natchlwyd, xứ Wales. Trò chơi này được vay mượn từ rất nhiều môn thể thao khác, mà đặc biệt là một môn thể thao trong nhà có tên “real tennis” (có nghĩa là “tennis hoàng gia”).

Nhìn thấy tương lai sáng lạn của môn thể thao này, thiếu tá Wingfield đã đăng ký sáng chế vào năm 1874, nhưng đã không thể giữ được độc quyền. Tennis phát triển một cách nhanh chóng trong các giai cấp nhàn rỗi của Anh và lan sang cả nước Mỹ. Lần đầu tiên tennis xuất hiện bên kia bờ Đại Tây Dương là tại tư gia của Mary Ewing Outerbridge, Staten Island, New York cùng trong năm 1874.

Đến năm 1881, nhu cầu thi đấu đã dẫn tới sự xuất hiện của rất nhiều câu lạc bộ tennis. Và giải đấu đầu tiên tại Wimbledon, London đã được tổ chức vào năm 1877.

Cũng trong năm 1881, Hiệp hội quần vợt trên sân cỏ quốc gia Hoa Kỳ (nay là Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ) đã tiêu chuẩn hóa bộ luật đầu tiên của môn quần vợt, đồng thời tổ chức các giải đấu trên đất Mỹ. Đây là nền tảng cho bộ luật hoàn chỉnh I.L.T.F được ban hành năm 1924, và hầu như được giữ nguyên cho đến bây giờ. Trong hơn 80 năm, chỉ có một thay đổi lớn là việc thêm vào hệ thống tie-break do James Van Alen nghĩ ra.

Giải đấu U.S. National Men"s Singles Championship (Giải vô địch đơn nam quốc gia Mỹ) nay là U.S Open (Giải Mỹ mở rộng), được tổ chức lần đầu tiên tại Newport, Rhode Island, và chỉ sau đó 6 năm, giải đấu tương tự dành cho nữ cũng được tổ chức. Riêng giải David Cup dành cho các đội tuyển nam quốc gia được tổ chức lần dầu giữa Anh và Mỹ vào năm 1900.

Trong nhiều năm, tennis là môn thể thao của các nước nói tiếng Anh, trong đó nổi bật là Mỹ và khối liên hiệp Anh. Ngoài ra, nó cũng khá phổ biến ở Pháp, và giải Pháp mở rộng lần đầu tiên diễn ra vào năm 1891.

Cũng chính vì thế, các giải đấu Wimbledon, Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng và Úc mở rộng (được tổ chức lần đầu năm 1905) đã trở thành những giải đấu có uy tín lớn nhất trong giới banh nỉ cho đến nay. Bốn giải đấu này tập hợp lại thành một hệ thống được gọi là Grand Slam.

Năm 1926, C.C.Pyle đã tổ chức hệ thống giải đấu tennis chuyên nghiệp đầu tiên giữa những tuyển thủ Mỹ và Pháp. Tại đây các tuyển thủ sẽ thi đấu cho khán giả đã trả tiền vào xem. Và trong suốt 42 năm, quần vợt chuyên nghiệp và nghiệp dư hoàn toàn độc lập với nhau; các tuyển thủ chuyên nghiệp không được thi đấu tại giải nghiệp dư.

Mãi đến năm 1968, sức ép thương mại mới đánh đổ được bức tường ngăn cách này. Thời đại mở của tennis bắt đầu, cho phép tất các các tay vợt được tham dự bất kỳ giải đấu nào, cũng như giúp các tuyển thủ hàng đầu có thể sống bằng tennis.

Roland Garros, hay Pháp mở rộng - một trong bốn giải đấu lớn nhất của làng banh nỉ

Thời đại mới cũng khai sinh những hệ thống thi đấu chuyên nghiệp trong khi lợi nhuận khổng lồ từ việc bán bản quyền truyền hình đã truyền bá quần vợt ra khắp thế giới; các tay vợt thuộc khối các nước nói tiếng Anh không còn giữ địa vị thống trị. Kể từ năm 1970 đến nay, các nhà vô địch đều đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau như Đức, Úc, Brazil, Thụy Sỹ…



Tại Mỹ, quần vợt đã nhanh chóng chuyển thành một môn thể thao dành cho tất cả mọi người. Thành công đã đến với rất nhiều tay vợt, từ một người thuộc giai cấp công nhân như Jimmy Connors đến những người Mỹ gốc Phi như Arthur Ashe hay chị em nhà Williams. Đây có thể là kết quả của việc trong thập kỷ 70, Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ đã quyết định đưa giải đấu U.S. Open ra thi đấu ở một công viên công cộng và cho phép mọi người đến xem với chỉ một khoản “phí sân cỏ” là 17$ (giá hiện nay).

Đến năm 1954, James Van Alen, người đã có công sáng tạo ra hệ thống tie-break đã thành lập một Viện bảo tàng quần vợt Quốc tế, đặt tại Newport, Rhode Island. Nơi đây lưu giữ một bộ sưu tập khổng lồ những kỷ vật của làng banh nỉ cũng như một bảng thống kê những nhân vật có tên tuổi, có những đóng góp quan trọng cho môn tennis, gồm cả các tay vợt lẫn những người chỉ làm công việc văn phòng.
Hay
 

Ducquang

Thành viên mới
Điểm đôi: 660
Tham gia
Thích
0
#33
Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.

Nếu thiếu tá Wingfield không quyết định đổi tên môn thể thao mới thì có lẽ bây giờ chúng ta sẽ phải theo dõi Wimbledon Sphairistike Championships. Nhưng chắc sẽ không có mấy người thích cái tên này, nhất là các bình luận viên thể thao.

Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.



Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.

Mặc dù cái tên được chọn là do thiếu tá Wingfield nghĩ ra, nhưng thực tế, môn tennis hiện đại đã hình thành theo hai con đường riêng biệt.

Vào năm 1856, Alex Ryden, cố vấn pháp luật, đã cùng với người bạn là Joao Batista Pereira, lái buôn Bồ Đào Nha, chơi một trò chơi được họ gọi là “pelota”, tương tự như một trò đánh bóng của Tây Ban Nha. Họ thường thi đấu trên một bãi cỏ tại Edgbaston, thành phố Birmingham.

Đến năm 1872, cả hai chuyển tới Leamington Spa, thành phố thuộc miền Nam nước Anh; và trò chơi của họ đã thu hút thêm hai bác sỹ thuộc bệnh viện Warneford.

Sau đó, Pereira đã cùng với bác sỹ Frederick Haynes và bác sỹ Wellesley Tomkins thành lập câu lạc bộ quần vợt trên sân cỏ đầu tiên trên thế giới, câu lạc bộ Leamington Tennis Club, cũng như đưa ra những luật lệ đầu tiên cho môn thể thao này.

Tờ báo The Courier ngày 23 tháng 07 năm 1884 đã ghi nhận một trong những giải thi đấu đầu tiên của môn tennis, diễn ra tại sảnh Shrubland (nơi này đã bị phá hủy vào năm 1948).

Con đường thứ hai, được biết đến nhiều hơn, là môn tennis do thiếu tá Walter Clopton Wingfield nghĩ ra, dành cho những vị khách đến chơi tại biệt thự của ông nằm ở Natchlwyd, xứ Wales. Trò chơi này được vay mượn từ rất nhiều môn thể thao khác, mà đặc biệt là một môn thể thao trong nhà có tên “real tennis” (có nghĩa là “tennis hoàng gia”).

Nhìn thấy tương lai sáng lạn của môn thể thao này, thiếu tá Wingfield đã đăng ký sáng chế vào năm 1874, nhưng đã không thể giữ được độc quyền. Tennis phát triển một cách nhanh chóng trong các giai cấp nhàn rỗi của Anh và lan sang cả nước Mỹ. Lần đầu tiên tennis xuất hiện bên kia bờ Đại Tây Dương là tại tư gia của Mary Ewing Outerbridge, Staten Island, New York cùng trong năm 1874.

Đến năm 1881, nhu cầu thi đấu đã dẫn tới sự xuất hiện của rất nhiều câu lạc bộ tennis. Và giải đấu đầu tiên tại Wimbledon, London đã được tổ chức vào năm 1877.

Cũng trong năm 1881, Hiệp hội quần vợt trên sân cỏ quốc gia Hoa Kỳ (nay là Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ) đã tiêu chuẩn hóa bộ luật đầu tiên của môn quần vợt, đồng thời tổ chức các giải đấu trên đất Mỹ. Đây là nền tảng cho bộ luật hoàn chỉnh I.L.T.F được ban hành năm 1924, và hầu như được giữ nguyên cho đến bây giờ. Trong hơn 80 năm, chỉ có một thay đổi lớn là việc thêm vào hệ thống tie-break do James Van Alen nghĩ ra.

Giải đấu U.S. National Men"s Singles Championship (Giải vô địch đơn nam quốc gia Mỹ) nay là U.S Open (Giải Mỹ mở rộng), được tổ chức lần đầu tiên tại Newport, Rhode Island, và chỉ sau đó 6 năm, giải đấu tương tự dành cho nữ cũng được tổ chức. Riêng giải David Cup dành cho các đội tuyển nam quốc gia được tổ chức lần dầu giữa Anh và Mỹ vào năm 1900.

Trong nhiều năm, tennis là môn thể thao của các nước nói tiếng Anh, trong đó nổi bật là Mỹ và khối liên hiệp Anh. Ngoài ra, nó cũng khá phổ biến ở Pháp, và giải Pháp mở rộng lần đầu tiên diễn ra vào năm 1891.

Cũng chính vì thế, các giải đấu Wimbledon, Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng và Úc mở rộng (được tổ chức lần đầu năm 1905) đã trở thành những giải đấu có uy tín lớn nhất trong giới banh nỉ cho đến nay. Bốn giải đấu này tập hợp lại thành một hệ thống được gọi là Grand Slam.

Năm 1926, C.C.Pyle đã tổ chức hệ thống giải đấu tennis chuyên nghiệp đầu tiên giữa những tuyển thủ Mỹ và Pháp. Tại đây các tuyển thủ sẽ thi đấu cho khán giả đã trả tiền vào xem. Và trong suốt 42 năm, quần vợt chuyên nghiệp và nghiệp dư hoàn toàn độc lập với nhau; các tuyển thủ chuyên nghiệp không được thi đấu tại giải nghiệp dư.

Mãi đến năm 1968, sức ép thương mại mới đánh đổ được bức tường ngăn cách này. Thời đại mở của tennis bắt đầu, cho phép tất các các tay vợt được tham dự bất kỳ giải đấu nào, cũng như giúp các tuyển thủ hàng đầu có thể sống bằng tennis.

Roland Garros, hay Pháp mở rộng - một trong bốn giải đấu lớn nhất của làng banh nỉ

Thời đại mới cũng khai sinh những hệ thống thi đấu chuyên nghiệp trong khi lợi nhuận khổng lồ từ việc bán bản quyền truyền hình đã truyền bá quần vợt ra khắp thế giới; các tay vợt thuộc khối các nước nói tiếng Anh không còn giữ địa vị thống trị. Kể từ năm 1970 đến nay, các nhà vô địch đều đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau như Đức, Úc, Brazil, Thụy Sỹ…



Tại Mỹ, quần vợt đã nhanh chóng chuyển thành một môn thể thao dành cho tất cả mọi người. Thành công đã đến với rất nhiều tay vợt, từ một người thuộc giai cấp công nhân như Jimmy Connors đến những người Mỹ gốc Phi như Arthur Ashe hay chị em nhà Williams. Đây có thể là kết quả của việc trong thập kỷ 70, Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ đã quyết định đưa giải đấu U.S. Open ra thi đấu ở một công viên công cộng và cho phép mọi người đến xem với chỉ một khoản “phí sân cỏ” là 17$ (giá hiện nay).

Đến năm 1954, James Van Alen, người đã có công sáng tạo ra hệ thống tie-break đã thành lập một Viện bảo tàng quần vợt Quốc tế, đặt tại Newport, Rhode Island. Nơi đây lưu giữ một bộ sưu tập khổng lồ những kỷ vật của làng banh nỉ cũng như một bảng thống kê những nhân vật có tên tuổi, có những đóng góp quan trọng cho môn tennis, gồm cả các tay vợt lẫn những người chỉ làm công việc văn phòng.
 
Loading...
Top