Lịch sử tennis - Từ quý tộc đến đời thường- Luật Tennis

Sangbk

Thành viên mới
Điểm đôi: 680
Tham gia
Thích
2
#53
Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.

Nếu thiếu tá Wingfield không quyết định đổi tên môn thể thao mới thì có lẽ bây giờ chúng ta sẽ phải theo dõi Wimbledon Sphairistike Championships. Nhưng chắc sẽ không có mấy người thích cái tên này, nhất là các bình luận viên thể thao.

Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.



Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.

Mặc dù cái tên được chọn là do thiếu tá Wingfield nghĩ ra, nhưng thực tế, môn tennis hiện đại đã hình thành theo hai con đường riêng biệt.

Vào năm 1856, Alex Ryden, cố vấn pháp luật, đã cùng với người bạn là Joao Batista Pereira, lái buôn Bồ Đào Nha, chơi một trò chơi được họ gọi là “pelota”, tương tự như một trò đánh bóng của Tây Ban Nha. Họ thường thi đấu trên một bãi cỏ tại Edgbaston, thành phố Birmingham.

Đến năm 1872, cả hai chuyển tới Leamington Spa, thành phố thuộc miền Nam nước Anh; và trò chơi của họ đã thu hút thêm hai bác sỹ thuộc bệnh viện Warneford.

Sau đó, Pereira đã cùng với bác sỹ Frederick Haynes và bác sỹ Wellesley Tomkins thành lập câu lạc bộ quần vợt trên sân cỏ đầu tiên trên thế giới, câu lạc bộ Leamington Tennis Club, cũng như đưa ra những luật lệ đầu tiên cho môn thể thao này.

Tờ báo The Courier ngày 23 tháng 07 năm 1884 đã ghi nhận một trong những giải thi đấu đầu tiên của môn tennis, diễn ra tại sảnh Shrubland (nơi này đã bị phá hủy vào năm 1948).

Con đường thứ hai, được biết đến nhiều hơn, là môn tennis do thiếu tá Walter Clopton Wingfield nghĩ ra, dành cho những vị khách đến chơi tại biệt thự của ông nằm ở Natchlwyd, xứ Wales. Trò chơi này được vay mượn từ rất nhiều môn thể thao khác, mà đặc biệt là một môn thể thao trong nhà có tên “real tennis” (có nghĩa là “tennis hoàng gia”).

Nhìn thấy tương lai sáng lạn của môn thể thao này, thiếu tá Wingfield đã đăng ký sáng chế vào năm 1874, nhưng đã không thể giữ được độc quyền. Tennis phát triển một cách nhanh chóng trong các giai cấp nhàn rỗi của Anh và lan sang cả nước Mỹ. Lần đầu tiên tennis xuất hiện bên kia bờ Đại Tây Dương là tại tư gia của Mary Ewing Outerbridge, Staten Island, New York cùng trong năm 1874.

Đến năm 1881, nhu cầu thi đấu đã dẫn tới sự xuất hiện của rất nhiều câu lạc bộ tennis. Và giải đấu đầu tiên tại Wimbledon, London đã được tổ chức vào năm 1877.

Cũng trong năm 1881, Hiệp hội quần vợt trên sân cỏ quốc gia Hoa Kỳ (nay là Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ) đã tiêu chuẩn hóa bộ luật đầu tiên của môn quần vợt, đồng thời tổ chức các giải đấu trên đất Mỹ. Đây là nền tảng cho bộ luật hoàn chỉnh I.L.T.F được ban hành năm 1924, và hầu như được giữ nguyên cho đến bây giờ. Trong hơn 80 năm, chỉ có một thay đổi lớn là việc thêm vào hệ thống tie-break do James Van Alen nghĩ ra.

Giải đấu U.S. National Men"s Singles Championship (Giải vô địch đơn nam quốc gia Mỹ) nay là U.S Open (Giải Mỹ mở rộng), được tổ chức lần đầu tiên tại Newport, Rhode Island, và chỉ sau đó 6 năm, giải đấu tương tự dành cho nữ cũng được tổ chức. Riêng giải David Cup dành cho các đội tuyển nam quốc gia được tổ chức lần dầu giữa Anh và Mỹ vào năm 1900.

Trong nhiều năm, tennis là môn thể thao của các nước nói tiếng Anh, trong đó nổi bật là Mỹ và khối liên hiệp Anh. Ngoài ra, nó cũng khá phổ biến ở Pháp, và giải Pháp mở rộng lần đầu tiên diễn ra vào năm 1891.

Cũng chính vì thế, các giải đấu Wimbledon, Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng và Úc mở rộng (được tổ chức lần đầu năm 1905) đã trở thành những giải đấu có uy tín lớn nhất trong giới banh nỉ cho đến nay. Bốn giải đấu này tập hợp lại thành một hệ thống được gọi là Grand Slam.

Năm 1926, C.C.Pyle đã tổ chức hệ thống giải đấu tennis chuyên nghiệp đầu tiên giữa những tuyển thủ Mỹ và Pháp. Tại đây các tuyển thủ sẽ thi đấu cho khán giả đã trả tiền vào xem. Và trong suốt 42 năm, quần vợt chuyên nghiệp và nghiệp dư hoàn toàn độc lập với nhau; các tuyển thủ chuyên nghiệp không được thi đấu tại giải nghiệp dư.

Mãi đến năm 1968, sức ép thương mại mới đánh đổ được bức tường ngăn cách này. Thời đại mở của tennis bắt đầu, cho phép tất các các tay vợt được tham dự bất kỳ giải đấu nào, cũng như giúp các tuyển thủ hàng đầu có thể sống bằng tennis.

Roland Garros, hay Pháp mở rộng - một trong bốn giải đấu lớn nhất của làng banh nỉ

Thời đại mới cũng khai sinh những hệ thống thi đấu chuyên nghiệp trong khi lợi nhuận khổng lồ từ việc bán bản quyền truyền hình đã truyền bá quần vợt ra khắp thế giới; các tay vợt thuộc khối các nước nói tiếng Anh không còn giữ địa vị thống trị. Kể từ năm 1970 đến nay, các nhà vô địch đều đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau như Đức, Úc, Brazil, Thụy Sỹ…



Tại Mỹ, quần vợt đã nhanh chóng chuyển thành một môn thể thao dành cho tất cả mọi người. Thành công đã đến với rất nhiều tay vợt, từ một người thuộc giai cấp công nhân như Jimmy Connors đến những người Mỹ gốc Phi như Arthur Ashe hay chị em nhà Williams. Đây có thể là kết quả của việc trong thập kỷ 70, Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ đã quyết định đưa giải đấu U.S. Open ra thi đấu ở một công viên công cộng và cho phép mọi người đến xem với chỉ một khoản “phí sân cỏ” là 17$ (giá hiện nay).

Đến năm 1954, James Van Alen, người đã có công sáng tạo ra hệ thống tie-break đã thành lập một Viện bảo tàng quần vợt Quốc tế, đặt tại Newport, Rhode Island. Nơi đây lưu giữ một bộ sưu tập khổng lồ những kỷ vật của làng banh nỉ cũng như một bảng thống kê những nhân vật có tên tuổi, có những đóng góp quan trọng cho môn tennis, gồm cả các tay vợt lẫn những người chỉ làm công việc văn phòng.
Thông tin rất hữu ích.
 

nguyenlieuduoc

Thành viên
Tham gia
Thích
0
#54
Tăng cường chức năng thận hiệu quả nhờ thục địa

Bạn có thể nghĩ về việc sử dụng các chất bổ sung thảo dược để giúp đỡ với bất kỳ mối quan tâm sức khỏe nào bạn có thể có, nhưng là một bệnh nhân mắc bệnh thận, bạn nên thận trọng với các chất bổ sung thảo dược. Bạn đã nghe nói tới việc sử dụng cao thục địa để hỗ trợ chức năng thận hay chưa? Nếu chưa biết tới điều này bạn có thể tham khảo bài viết bên dưới nhé.



Như chúng ta đã biết, việc sử dụng thảo dược có tác dụng như thuốc lợi tiểu, có thể tăng đào thải chất độc ở thận. Tuy nhiên nhiều chất bổ sung thảo dược có thể tương tác với thuốc theo toa. Một vài ví dụ là St. Johns Wort, echinacea, bạch quả, tỏi, nhân sâm, gừng và cohosh xanh. Nếu bạn bị ghép thận, bạn đặc biệt có nguy cơ, vì bất kỳ tương tác nào giữa các chất bổ sung thảo dược và thuốc có thể khiến bạn có nguy cơ bị mất thận.

Theo Y học cổ truyền Trung Quốc, sự thiếu hụt âm trong thận có liên quan mật thiết đến sự mệt mỏi và kiệt sức của tuyến thượng thận. Thục địa (Rehmannia) được phân loại trong TCM là thuốc bổ máu và thuốc bổ âm dương. Nó được cho là kích thích sản xuất hormone thận erythropoietin , hoạt động trên tủy xương để kích thích sự tăng sinh của các tế bào tiền thân và sự trưởng thành của chúng thành hồng cầu (một loại tế bào hồng cầu).

Rehmannia cũng đã được tìm thấy để tăng lưu lượng máu thận, trong một số trường hợp đã cho phép các giá trị thận trở lại bình thường. Giá trị thận cao bất thường có liên quan đến bệnh thận và chức năng thận chậm chạp.

Tuy nhiên cần lưu ý khi sử dụng các chất bổ sung thảo dược thường không an toàn nếu bạn bị bệnh thận vì một số sản phẩm thảo dược có thể gây hại cho thận và thậm chí làm cho bệnh thận của bạn trở nên tồi tệ hơn. Ngoài ra, thận của bạn không thể loại bỏ các chất thải có thể tích tụ trong cơ thể.

Hiện nay, thị trường đang có nhu cầu sử dụng thảo dược cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe ngày càng cao. Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm các sản phẩm thực phẩm bổ sung có công thức cao dược liệu thục địa là thành phần chủ yếu của sản phẩm. Nó có thể cải thiện sức khỏe thận của bạn một cách an toàn và hiệu quả.
 

nguyenlieuduoc

Thành viên
Tham gia
Thích
0
#55
5 thảo dược hỗ trợ điều trị bệnh gút tuyệt vời

Gout là một loại viêm khớp gây ra bởi sự tích tụ axit uric cao trong máu, gây viêm khớp, đau nhức xương khớp và khó chịu cho người bệnh. Một thực tế đã được nghiên cứu rằng bạn có thể sử dụng các phương pháp tự nhiên để kiểm soát và hỗ trợ điều trị bệnh gút của mình tại nhà. Trong số đó nổi bật nhất là phương pháp sử dụng các thảo dược tự nhiên như: quả táo gai, hạt cần tây, cây tầm ma, quả anh đào, quả dứa.

1. Quả táo gai :

Quả táo gai hay còn gọi là sơn tra có chứa flavonoid và cũng có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh gút. Bạn nên tiêu thụ 150 đến 350 mg chiết xuất cao táo gai mỗi ngày để cung cấp một lượng flavonoid nhất định, giúp tăng hiệu quả hỗ trợ và điều trị bệnh gút.

2. Hạt cần tây :

Chiết xuất hạt cần tây đã được chứng minh là làm giảm sự tích tụ axit uric trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu đã xác định được hơn một chục loại chất chống oxy hóa khác nhau chịu trách nhiệm cho lợi ích của cần tây – chúng bao gồm các axit phenolic như axit caffeic và axit ferulic, cộng với flavaol như quecetin. Điều này làm cho cần tây hữu ích để điều trị một loạt các tình trạng tồi tệ hơn do viêm: đau khớp (như viêm khớp), bệnh gút, nhiễm trùng thận và gan, rối loạn da, hội chứng ruột kích thích và nhiễm trùng đường tiết niệu.

3. Cây tầm ma :

Nettles là một chất phytonutrient chống viêm mạnh mẽ, và bạn có thể mua nó ở dạng trà. Một đánh giá về các phương thuốc thảo dược thường được sử dụng bao gồm cả cây tầm ma được công bố trên Toxicology và Application Pharmacology chuyển tiếp sự đứng của cây tầm ma như một loại thực phẩm chống viêm. Vì vậy, bạn có thể mua cây tầm ma như một chất bổ sung hoặc uống nó như một loại trà và nó thật tuyệt vời để giúp bạn thoát khỏi bệnh gút.

4. Quả anh đào:

Điều trị bệnh gút là một trong nhiều lợi ích sức khỏe của quả anh đào. Một nghiên cứu được công bố trên Viêm khớp & Thấp khớp đã đánh giá 633 người mắc bệnh gút được điều trị bằng chiết xuất anh đào trong khoảng thời gian hai ngày. Điều trị bằng loại quả này có liên quan đến nguy cơ bị bệnh gút thấp hơn 35%. Khi uống anh đào được kết hợp với sử dụng allopurinol một loại thuốc được kê toa cho bệnh gút và sỏi thận, nguy cơ bị bệnh gút thấp hơn 75%.

Nước ép anh đào giúp làm giảm viêm và tích tụ axit uric trong cơ thể. Bạn chỉ cần thêm nước ép anh đào vào chế độ ăn uống của bạn, bạn sẽ thấy kết quả rất nhanh trong việc loại bỏ bệnh gút.

5. Quả dứa:

Bromelain được tìm thấy trong lõi của quả dứa, đó là một loại enzyme tiêu hóa được chứng minh là giúp giảm axit uric và viêm. Về mặt bổ sung các enzyme phân giải protein như bromelain giàu lợi ích cũng có thể điều trị bệnh gút. Một đánh giá về điều trị bệnh gút được công bố trên Tạp chí Y học Iran đề cập đến bromelain cùng với nhiều loại thực phẩm khác,như là một phần của chế độ ăn điều trị bệnh gút.

Với các phương pháp tự nhiên vừa rồi có thể giúp bạn kiểm soát và hỗ trợ điều trị bệnh gút, tuy nhiên bạn vẫn cần phải kết hợp chế độ ăn kiêng và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên. Một trong những việc làm đầu tiên bạn nên làm bây giờ là bổ sung chế độ ăn có chứa các thực phẩm bổ sung kể trên, hoặc dùng trực tiếp thực phẩm bổ sung có sử dụng nguồn nguyên liệu dược phẩm được chế biến từ các thảo dược trên.

 

VinhLinhDam

Thành viên mới
Điểm đôi: 650
Tham gia
Thích
1
#58
Cái tên tennis bắt nguồn từ một trò chơi đánh bóng của người Hy Lạp cổ đại có tên là “sphairistike”. Khi thiếu tá Walter Wingfield nghĩ ra một trò giải trí mới, vay mượn từ rất nhiều trò chơi khác: lưới từ môn cầu lông, trái bóng từ bóng ném và cây vợt từ môn racquets (môn đánh bóng trong phòng có tường bao quanh), ông đã mượn luôn cái tên Hy Lạp này cho nó.

Nếu thiếu tá Wingfield không quyết định đổi tên môn thể thao mới thì có lẽ bây giờ chúng ta sẽ phải theo dõi Wimbledon Sphairistike Championships. Nhưng chắc sẽ không có mấy người thích cái tên này, nhất là các bình luận viên thể thao.

Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.



Sphairistike nhanh chóng được đổi thành “sticky”, trong tiếng Pháp là stické, một cách gọi có tính hạ thấp. Sau khi được cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour góp ý, thiếu tá Wingfield đã quyết định đặt tên cho môn thể thao này là “lawn tennis” (quần vợt trên sân cỏ), và được cấp bằng phát minh với cái tên này.

Mặc dù cái tên được chọn là do thiếu tá Wingfield nghĩ ra, nhưng thực tế, môn tennis hiện đại đã hình thành theo hai con đường riêng biệt.

Vào năm 1856, Alex Ryden, cố vấn pháp luật, đã cùng với người bạn là Joao Batista Pereira, lái buôn Bồ Đào Nha, chơi một trò chơi được họ gọi là “pelota”, tương tự như một trò đánh bóng của Tây Ban Nha. Họ thường thi đấu trên một bãi cỏ tại Edgbaston, thành phố Birmingham.

Đến năm 1872, cả hai chuyển tới Leamington Spa, thành phố thuộc miền Nam nước Anh; và trò chơi của họ đã thu hút thêm hai bác sỹ thuộc bệnh viện Warneford.

Sau đó, Pereira đã cùng với bác sỹ Frederick Haynes và bác sỹ Wellesley Tomkins thành lập câu lạc bộ quần vợt trên sân cỏ đầu tiên trên thế giới, câu lạc bộ Leamington Tennis Club, cũng như đưa ra những luật lệ đầu tiên cho môn thể thao này.

Tờ báo The Courier ngày 23 tháng 07 năm 1884 đã ghi nhận một trong những giải thi đấu đầu tiên của môn tennis, diễn ra tại sảnh Shrubland (nơi này đã bị phá hủy vào năm 1948).

Con đường thứ hai, được biết đến nhiều hơn, là môn tennis do thiếu tá Walter Clopton Wingfield nghĩ ra, dành cho những vị khách đến chơi tại biệt thự của ông nằm ở Natchlwyd, xứ Wales. Trò chơi này được vay mượn từ rất nhiều môn thể thao khác, mà đặc biệt là một môn thể thao trong nhà có tên “real tennis” (có nghĩa là “tennis hoàng gia”).

Nhìn thấy tương lai sáng lạn của môn thể thao này, thiếu tá Wingfield đã đăng ký sáng chế vào năm 1874, nhưng đã không thể giữ được độc quyền. Tennis phát triển một cách nhanh chóng trong các giai cấp nhàn rỗi của Anh và lan sang cả nước Mỹ. Lần đầu tiên tennis xuất hiện bên kia bờ Đại Tây Dương là tại tư gia của Mary Ewing Outerbridge, Staten Island, New York cùng trong năm 1874.

Đến năm 1881, nhu cầu thi đấu đã dẫn tới sự xuất hiện của rất nhiều câu lạc bộ tennis. Và giải đấu đầu tiên tại Wimbledon, London đã được tổ chức vào năm 1877.

Cũng trong năm 1881, Hiệp hội quần vợt trên sân cỏ quốc gia Hoa Kỳ (nay là Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ) đã tiêu chuẩn hóa bộ luật đầu tiên của môn quần vợt, đồng thời tổ chức các giải đấu trên đất Mỹ. Đây là nền tảng cho bộ luật hoàn chỉnh I.L.T.F được ban hành năm 1924, và hầu như được giữ nguyên cho đến bây giờ. Trong hơn 80 năm, chỉ có một thay đổi lớn là việc thêm vào hệ thống tie-break do James Van Alen nghĩ ra.

Giải đấu U.S. National Men"s Singles Championship (Giải vô địch đơn nam quốc gia Mỹ) nay là U.S Open (Giải Mỹ mở rộng), được tổ chức lần đầu tiên tại Newport, Rhode Island, và chỉ sau đó 6 năm, giải đấu tương tự dành cho nữ cũng được tổ chức. Riêng giải David Cup dành cho các đội tuyển nam quốc gia được tổ chức lần dầu giữa Anh và Mỹ vào năm 1900.

Trong nhiều năm, tennis là môn thể thao của các nước nói tiếng Anh, trong đó nổi bật là Mỹ và khối liên hiệp Anh. Ngoài ra, nó cũng khá phổ biến ở Pháp, và giải Pháp mở rộng lần đầu tiên diễn ra vào năm 1891.

Cũng chính vì thế, các giải đấu Wimbledon, Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng và Úc mở rộng (được tổ chức lần đầu năm 1905) đã trở thành những giải đấu có uy tín lớn nhất trong giới banh nỉ cho đến nay. Bốn giải đấu này tập hợp lại thành một hệ thống được gọi là Grand Slam.

Năm 1926, C.C.Pyle đã tổ chức hệ thống giải đấu tennis chuyên nghiệp đầu tiên giữa những tuyển thủ Mỹ và Pháp. Tại đây các tuyển thủ sẽ thi đấu cho khán giả đã trả tiền vào xem. Và trong suốt 42 năm, quần vợt chuyên nghiệp và nghiệp dư hoàn toàn độc lập với nhau; các tuyển thủ chuyên nghiệp không được thi đấu tại giải nghiệp dư.

Mãi đến năm 1968, sức ép thương mại mới đánh đổ được bức tường ngăn cách này. Thời đại mở của tennis bắt đầu, cho phép tất các các tay vợt được tham dự bất kỳ giải đấu nào, cũng như giúp các tuyển thủ hàng đầu có thể sống bằng tennis.

Roland Garros, hay Pháp mở rộng - một trong bốn giải đấu lớn nhất của làng banh nỉ

Thời đại mới cũng khai sinh những hệ thống thi đấu chuyên nghiệp trong khi lợi nhuận khổng lồ từ việc bán bản quyền truyền hình đã truyền bá quần vợt ra khắp thế giới; các tay vợt thuộc khối các nước nói tiếng Anh không còn giữ địa vị thống trị. Kể từ năm 1970 đến nay, các nhà vô địch đều đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau như Đức, Úc, Brazil, Thụy Sỹ…



Tại Mỹ, quần vợt đã nhanh chóng chuyển thành một môn thể thao dành cho tất cả mọi người. Thành công đã đến với rất nhiều tay vợt, từ một người thuộc giai cấp công nhân như Jimmy Connors đến những người Mỹ gốc Phi như Arthur Ashe hay chị em nhà Williams. Đây có thể là kết quả của việc trong thập kỷ 70, Hiệp hội quần vợt quốc gia Hoa Kỳ đã quyết định đưa giải đấu U.S. Open ra thi đấu ở một công viên công cộng và cho phép mọi người đến xem với chỉ một khoản “phí sân cỏ” là 17$ (giá hiện nay).

Đến năm 1954, James Van Alen, người đã có công sáng tạo ra hệ thống tie-break đã thành lập một Viện bảo tàng quần vợt Quốc tế, đặt tại Newport, Rhode Island. Nơi đây lưu giữ một bộ sưu tập khổng lồ những kỷ vật của làng banh nỉ cũng như một bảng thống kê những nhân vật có tên tuổi, có những đóng góp quan trọng cho môn tennis, gồm cả các tay vợt lẫn những người chỉ làm công việc văn phòng.
Bài viết hay quá
 

VinhLinhDam

Thành viên mới
Điểm đôi: 650
Tham gia
Thích
1
#59
5 thảo dược hỗ trợ điều trị bệnh gút tuyệt vời

Gout là một loại viêm khớp gây ra bởi sự tích tụ axit uric cao trong máu, gây viêm khớp, đau nhức xương khớp và khó chịu cho người bệnh. Một thực tế đã được nghiên cứu rằng bạn có thể sử dụng các phương pháp tự nhiên để kiểm soát và hỗ trợ điều trị bệnh gút của mình tại nhà. Trong số đó nổi bật nhất là phương pháp sử dụng các thảo dược tự nhiên như: quả táo gai, hạt cần tây, cây tầm ma, quả anh đào, quả dứa.

1. Quả táo gai :

Quả táo gai hay còn gọi là sơn tra có chứa flavonoid và cũng có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh gút. Bạn nên tiêu thụ 150 đến 350 mg chiết xuất cao táo gai mỗi ngày để cung cấp một lượng flavonoid nhất định, giúp tăng hiệu quả hỗ trợ và điều trị bệnh gút.

2. Hạt cần tây :

Chiết xuất hạt cần tây đã được chứng minh là làm giảm sự tích tụ axit uric trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu đã xác định được hơn một chục loại chất chống oxy hóa khác nhau chịu trách nhiệm cho lợi ích của cần tây – chúng bao gồm các axit phenolic như axit caffeic và axit ferulic, cộng với flavaol như quecetin. Điều này làm cho cần tây hữu ích để điều trị một loạt các tình trạng tồi tệ hơn do viêm: đau khớp (như viêm khớp), bệnh gút, nhiễm trùng thận và gan, rối loạn da, hội chứng ruột kích thích và nhiễm trùng đường tiết niệu.

3. Cây tầm ma :

Nettles là một chất phytonutrient chống viêm mạnh mẽ, và bạn có thể mua nó ở dạng trà. Một đánh giá về các phương thuốc thảo dược thường được sử dụng bao gồm cả cây tầm ma được công bố trên Toxicology và Application Pharmacology chuyển tiếp sự đứng của cây tầm ma như một loại thực phẩm chống viêm. Vì vậy, bạn có thể mua cây tầm ma như một chất bổ sung hoặc uống nó như một loại trà và nó thật tuyệt vời để giúp bạn thoát khỏi bệnh gút.

4. Quả anh đào:

Điều trị bệnh gút là một trong nhiều lợi ích sức khỏe của quả anh đào. Một nghiên cứu được công bố trên Viêm khớp & Thấp khớp đã đánh giá 633 người mắc bệnh gút được điều trị bằng chiết xuất anh đào trong khoảng thời gian hai ngày. Điều trị bằng loại quả này có liên quan đến nguy cơ bị bệnh gút thấp hơn 35%. Khi uống anh đào được kết hợp với sử dụng allopurinol một loại thuốc được kê toa cho bệnh gút và sỏi thận, nguy cơ bị bệnh gút thấp hơn 75%.

Nước ép anh đào giúp làm giảm viêm và tích tụ axit uric trong cơ thể. Bạn chỉ cần thêm nước ép anh đào vào chế độ ăn uống của bạn, bạn sẽ thấy kết quả rất nhanh trong việc loại bỏ bệnh gút.

5. Quả dứa:

Bromelain được tìm thấy trong lõi của quả dứa, đó là một loại enzyme tiêu hóa được chứng minh là giúp giảm axit uric và viêm. Về mặt bổ sung các enzyme phân giải protein như bromelain giàu lợi ích cũng có thể điều trị bệnh gút. Một đánh giá về điều trị bệnh gút được công bố trên Tạp chí Y học Iran đề cập đến bromelain cùng với nhiều loại thực phẩm khác,như là một phần của chế độ ăn điều trị bệnh gút.

Với các phương pháp tự nhiên vừa rồi có thể giúp bạn kiểm soát và hỗ trợ điều trị bệnh gút, tuy nhiên bạn vẫn cần phải kết hợp chế độ ăn kiêng và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên. Một trong những việc làm đầu tiên bạn nên làm bây giờ là bổ sung chế độ ăn có chứa các thực phẩm bổ sung kể trên, hoặc dùng trực tiếp thực phẩm bổ sung có sử dụng nguồn nguyên liệu dược phẩm được chế biến từ các thảo dược trên.
Bài viết hay quá bạn ơi!
 
Loading...
Top